DÒNG TÊN – Nguyễn Trần Ai

DÒNG TÊN

 

Nguyễn Trần Ai

 

Huy hiệu Dòng Tên có ba mẫu tự IHS viết tắt của chữ Hy Lạp “Iesus Hominum Salvator” nghĩa là “Giê Su cứu thế của nhân loại”, hay “Iesum Habemus Socium” nghĩa là “Chúng ta có Giê Su là bạn đồng hành”, hay “Iesu Humilis Societas” nghĩa là “Hội khiêm nhường của Giê Su”. 

Sau thời Trung Cổ ảm đạm là thời Phục Hưng. Thời này, làn sóng văn hóa và học thuật triển khai khắp Âu Châu, được hầu hết các Gh tại ý dùng sự giầu có của GH hỗ trợ.

Gh Julius II (1445-1513) đặt viên đá đầu tiên cho Đền Thánh Phêrô ở La Mã và thuê Bernini, Raphael, và Michaelangelo — những nghệ nhân vĩ đại của thế giới thời ấy — cung cấp các tác phẩm điêu khắc, hội họa, kiến trúc cho thánh đường.

Tuy nhiên, phí tổn lớn lao này đã biến GH thành một cơ sở kinh tài. Hậu quả là phong trào đòi cải cách GH nổi lên khắp nơi. Erasmus (1465-1536) ở Rotterdam, Hòa Lan, Martin Luther (1483-1546) người Đức, Jean Calvin (1509-64) người Pháp, John Knox (1513-72) ở Tô Cách Lan, Huldreich Zwingli (1484-1531) ở Zurich, Thụy Sĩ… Nguyên tắc của Công giáo, là sự hợp nhất của đức tin, bây giờ được thay thế bằng nguyên tắc của Tin Lành là sự tinh tuyền của đức tin.

Đúng lúc GH La Mã, đúng ra là Giáo Hoàng, đang tứ bề thọ địch, thì Dòng Tên xuất hiện như một đội quân xung kích cứu giá từ đó cho đến bây giờ, cho nên năm 1761 văn hào Pháp Voltaire, một thành viên Hội Tam Điểm, đã tuyên bố, “Chỉ khi nào phá được Dòng Tên thì mới phá được cái đạo ác ôn [Công Giáo]“.

Dòng Tên (Societas Jesu/Society of Jesus, từ ngữ La Tinh societas do chữ socius, có nghĩa là đồng chí, partner hay comrade) do một nhà quý tộc Basque, Tây Ban Nha tên là Ignatius Loyola (thánh Y Nạp Tước La Diệu Lạp, còn gọi là Y Nhã, tên thực là Inigo Lopez de Loyola: 1491-1556) thành lập ngày 15.8.1534, tại hầm mộ nhà nguyện Thánh Denis, đường Yvonne le Tac, trên đồi Montmartre, thủ đô Paris, Pháp. Tại nhà thờ Montmatre nay còn có một bảng bằng đồng ghi “Societas Jesu Quae Sanctum Ignatium Loyolam Patrem agnoscit, Lutetiam matrem Hic nata est” (Dòng Tên sinh tại nơi đây. Cha: Thánh Y Nhã, Mẹ: Paris).

Năm 1521, Y Nhã lúc ấy là đại úy, bị thương vì trúng đạn trái phá trong trận chiến tranh với Pháp, khiến mộng làm tướng không thành. Năm 1527, đang theo học tại Salamanca — nơi mà con một nông dân tên là La Beata de Piedrahita năm 1511 đã bị tôn giáo pháp đình Tây Ban Nha để ý, khai là đã hội đàm với Chúa Giê Su và Đức Bà Đồng Trinh nhưng được tha — ông bị lôi ra trước một hội đồng giám mục về tội có cảm tình với Alumbrados, nhưng cũng chỉ bị cảnh cáo. Alumbrados đồng nghĩa với Illuminati. Tuy đã có vợ con, ông theo học 7 năm tại đại học Sorbonne, Paris, nơi đây ông quy tụ được một số đồng chí, trong đó có Francis Xavier of Navarre. Khi đó, giáo hoàng Paul III (1534-1549) đang phải đối phó với nạn ly giáo Tin Lành thì Y Nhã đến trình lên ngài kế sách lập đạo binh tu sĩ gián điệp nằm sâu trong nội bộ các giáo hội ly khai để tìm mọi cách làm cho các giáo hội đối lập bị tê liệt hoặc bị tiêu diệt.

Trả lời cuộc phỏng vấn của Rick Martin ngày 14.3.2000, Eric Jon Phelps phát biểu về thánh Y Nhã như sau:

Ignatius Loyola là một chiến binh Tây Ban Nha, bị thương trong trận chiến giữa Pháp và Tây Ban Nha và cẳng ông bị giập nát. Tướng Pháp thấy Loyola quá can trường trong chiến trận, ra lệnh cho các bác sĩ của chính ông săn sóc Loyola. Họ bó cẳng ông và gửi ông về quê nhà… vùng Basques…  Cẳng ông lành không đúng khớp… ông muốn nó phải bình thường như cũ, chịu những đau đớn kinh khủng. Ông bẻ gẫy chân lại đôi lần nhưng cẳng vẫn không như cũ và bị khập khiễng suốt đời, không còn tán gái được nữa, kết quả là ông bị trầm cảm và rồi thấy các thánh, vv… và viết về các Linh Thao (Exercitia spiritualia-Spiritual Exercises) của ông… Rồi Loyola muốn lập một quân đội… những Linh Thao của ông sẽ thánh cách huấn luyện căn bản cho các tu sĩ Dòng Tên… cho đến ngày nay.

Một phương châm của các Linh Thao là khi cấp trên bảo “đen là trắng và trắng là đen” thì nó là thế… Loyola có một ý chí bất khuất. Ông có ý chí thép và ông quyết tâm thu hồi cái gì mà  Giáo Hoàng (Gh) đã làm mất vào tay Cải Chính (Reformation). Và thế là ông đi gặp Gh và năm 1500, Gh lập ra Dòng Tên.

Nhưng ông này một người lính, một luật gia, và ông họp thành một đội quân và chiến sĩ để… thiết lập một Chính Phủ Thế Giới cho Gh từ Jerusalem… Ông lập dòng tu năm 1536. Ông bị Tôn Giáo Pháp Đình bắt và được thả và đến với Gh, phủ phục dưới chân ngài. Ông hoàn toàn hiến thân cho ngài. Gh cấp giấy phép (charter) cho ông. Gh ấy là Pius III…

Một số chuyện khẳng định trên đây có thể kiểm chứng được. Vài chi tiết Phelps nêu ra không chính xác. Y Nhã lập Dòng Tên năm 1534 (không phải 1536), được Gh Paul III (không phải Pius III) chính thức cho phép năm 1540. (Pius III lên ngôi Gh ngày 22.9.1503, chết ngày 18.10 cùng năm).

Ngày 27.9.1540, Gh Paul III ban tông chiếu Regimini Militantis Ecclesiae (To the Government of the Church Militant) cho phép ”Đạo Binh Chúa Giê Su” (Compagnie de Jésus, chữ compagnie do từ ngữ La Tinh “cum + pane” nghĩa là “với bánh”, no đói có nhau) trở thành một dòng tu giáo sĩ trong Hội Thánh mang tên Chúa (The Jesuits), giáo dân Việt Nam kiêng réo tên Chúa, gọi là Dòng Tên.

Lúc đầu Dòng Tên chỉ được phép có tối đa là 60 tu sĩ. Ngày 14.3.1513, tông chiếu Injunctum nobis bỏ giới hạn này. Các tu sĩ tự xưng là “Amigos En El Seũor” (tức bạn của Đấng Cứu Thế, nên giáo dân VN gọi là Ki Tô hữu), tự nguyện quên mình, tuyệt đối trung thành và “vâng lời như một xác chết” (perinde ac cadaver) để sáng danh Chúa hơn nữa (Ad Majorem Dei Gloriam). Chính Y Nhã đã phát biểu: “Ta nhìn thấy mầu trắng nhưng sẽ tin đó là đen nếu bề trên GH định nghĩa như thế” và dạy những ngưới theo ông phải tận tín và chấp nhận kỷ luật nhà binh.

Năm 1541, Vatican phong hàm tướng (general) cho Y Nhã và các kế vị nhưng, để tránh tiếng hiếu chiến, gọi chệch là Tổng Quyền hay Bề Trên Cả (Préposé Général-Superior General). Ông mất tại La Mã ngày 31.7.1556, ngày 13.03.1662, được Gh Gregory XV (1535-1623) tuyên thánh cùng với Francis Xavier (Phanxico Xa-vie: 1506-1552).

Dòng Tên chủ trương toàn thể thế giới phải theo Ki Tô giáo dưới quyền Vatican và tận diệt Tin Lành nên bị nhiều nước chống đối và tẩy chay.

Ngày 3.9.1758, vì vua Bồ Đào Nha José (1714-1777) bị Dòng Tên mưu sát, ngày 17.12.1759, hầu tước thủ tướng Pombat trục xuất 600 linh mục Dòng Tên, dân chúng nổi dậy giết chết 3 linh mục, truất hữu các tu viện tại Bồ và các thuộc địa.

Thủ tướng Pombat yêu cầu giáo hoàng Benedict XIV (1740-1758) bãi bỏ Dòng Tên. Tại Pháp, vua Louis XV (1710-1774) cũng trục xuất 4.000 tu sĩ Dòng Tên. Năm 1667, gần 6.000 tu sĩ Dòng Tên bị vua Carlos III (1716-1788) trục xuất khỏi Tây Ban Nha. Qua năm sau, các tu sĩ Dòng Tên bị đuổi ra khỏi vương quốc Napoli, Parma và đảo Malta. Các nước Tây Ban Nha, Napoli, Parma cũng đòi La Mã giải tán Dòng Tên, nếu không sẽ có ly giáo “khiến Đức Thánh Cha sầu khổ quá mà từ trần”. Giáo hoàng Clément XIV (1769-1774), vì bị các vua Pháp, Tây Ban Nha và Napoli ép phải bãi bỏ Dòng Tên, đành nhượng bộ và giải tán Dòng Tên bằng giáo chỉ Dominus ac Redemptor ngày 21-7-1773: “Ta muốn có sự hòa thuận lâu dài trong Hội Thánh và ta cũng nghĩ rằng Dòng Tên không còn giúp Hội Thánh được như xưa, và còn nhiều lý do khác không cần thiết kể ra đây, ta tuyên bố bãi bỏ Dòng Tên, các hoạt động, các tu viện và hiến pháp của dòng này”. Trong khi đó, hoàng đế nước Phổ Frederick William II (1744-1797) và nữ hoàng Nga Catherina II (1729-1796) vẫn cho phép Dòng Tên tiếp tục hoạt động ở Phổ và Nga.

Từ 1783, một nhóm tu sĩ Dòng Tên vẫn tiếp tục hoạt động với hậu thuẫn ngầm của giáo hoàng Pius VI (1775-1799), vì thế năm 1782 Stanislaus Czerniewicz vẫn được bầu làm Bề Trên Cả cùa Dòng Tên. Năm 1814, Dòng Tên được giáo hoàng Pius VII (1800-1823), khi về được La Mã sau khi bị giam cầm tại Pháp, đã cho phục hoạt bằng giáo chỉ Sollicitudo omnium Ecclesiarum, và Thaddeus Brzozowski được bầu làm Bề Trên Cả ở Nga từ 1805 lúc ấy có thẩm quyền trên cả thế giới. Năm 1870, Dòng Tên giữ vai trò quan trọng trong việc tuyên bố giáo hoàng vô ngộ (papal infallibility).

Tổng Quyền (Praepositus Generalis = Superior General = Préposé Général = Provost General) có thẩm quyền trên khắp thế giới, có một nội các (Curia) gồm nhiều phụ tá. Thế giới được chia thành tỉnh dòng (province) do các giám tỉnh (provincial superior) quản trị.

Phelps gọi các “Tướng Dòng Tên” là “Giáo Hoàng Đen” (Black pope, nghĩa là giáo hoàng trong bóng tối) và chủ trương rằng chính các Gh cũng bị họ điều khiển. Cho tới nay có 30 Tổng Quyền. Tổng Quyền thứ 27 là Jean Baptist Janssens người Pháp, mất năm 1964, rồi đến Pedro Arrupe, năm 1983 bị bệnh nặng (chết năm 1988), nên ngày 13.9.1983 Hans Kolvenbach, người Hòa Lan lên thay, ngày 14.1.2008 về hưu vì đã 80 tuổi, được Adolfo Nicolas Pachón, người Tây Ban Nha thay làm Tổng Quyền thứ 30. Văn phòng của Tổng Quyền tức đại bản doanh (General Curia) Dòng Tên đặt tại La Mã, là một phần của Collegio del Gesù.

Tính đến tháng 1.2008, Dòng Tên có 18,815 thành viên hoạt động trên 112 quốc gia (so với 19,850 hoạt động trên 133 quốc gia năm 2005), chia ra 13,305 giáo sĩ, 2,295 học viên, 1,758 sư huynh và 827 tân ban viên (novice). Tân ban viên được ghi chữ  S.J. (Societas Jesu) sau tên và tuân hành ba điều nguyện: bần hàn, trinh khiết, vâng lời và hứa kiên trì tu hành lên đến bậc Học giả (Scholastic, được gọi là “Sir”, tức là đã vào hẳn hành trình tu sĩ) hay bậc sư huynh (tức trợ giám tạm (temporal coadjutor), thời gian tu luyện từ 2 đến 4 năm. Sau đó đến bậc nhiếp chính (regency) từ 2 đến 3 năm nữa. Lúc này, tu sĩ thường đã có bằng phó tiến sĩ (master) hay tiến sĩ (doctor) và được tấn phong (ordination), có thể chọn hoặc là làm một trợ giám tinh thần (spiritual coadjutor), nguyện giữ 3 lời hứa trọn đời, hoặc là làm một “tứ nguyện chuyên gia” (professed of the four vows). Chỉ có các vị “tứ nguyện chuyên gia” mới có quyền giữ chức sư phụ cho tân ban viên, chức giám tỉnh (provincial superior-father general) hay chức phụ tá cho Tổng Quyền [2].

Aldous Huxley nhận định:

Khó mà tìm được một tác giả suốt thời Trung Cổ và thời Phục Hưng nào mà không cho rằng dĩ nhiên trên từ các hàng giáo phẩm cao nhất xuống đến những tu sĩ khất thực thấp nhất, đa số trong giới giáo sĩ hoàn toàn mang tiếng xấu.

Đối với một tu sĩ Dòng Tên, vấn đề thành tựu sự toàn thiện Kitô giáo đặc biệt khó khăn. Dòng không phải là một dòng chuyên về tĩnh lự mà những thành viên sống biệt lập và dâng trọn đời cho việc cầu nguyện. Đó là một dòng hoạt động, một dòng của các tông đồ, chuyên đi cứu vớt linh hồn và nguyện chiến đấu trong các trận chiến của GH trên thế giới (The Devils of Loudun, trang 87).

Không riêng Aldous Huxley, Alfred Still dường như không mấy cảm tình với các tu sĩ Dòng Tên:

Các tu sĩ Dòng Tên chủ trương rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện (một nguyên tắc không thể tha thứ được và đáng phẫn nộ), không những thông cảm mà còn tích cực khuyến khích việc giả mạo. Giáo sĩ và tu sĩ thường sẵn sàng bênh vực bất cứ sự gian dối nào để moi tiền của những tín đồ khờ khạo và những người xưng tội hoảng hốt (Borderlands of Science, trang 207).

Dòng Tên được phép thành lập để chống lại những phản đối của những nhà cải cách bất mãn về cách hành sử quyền hành của Tòa Thánh, nhất là khi Gh Leo X (1513-21) nghĩ ra cách làm tiền kiểu mới, bán “khoan hồng” (indulgence) cuối thời Phục Hưng [3].

Joseph Gaer thuật lại diễn tiến của việc lập ra định chế “khoan hồng” này:

Để gây quỹ xây đại thánh đường, sau này được gọi là mái vòm St. Peter, Gh Leo phái người đi bán khoan hồng khắp thế giới Kitô giáo. Gh và giới tu sĩ của ngài có một bản liệt kê đầy đủ những tội mà một người có thể phạm, và hình phạt cho mỗi tội. Có những tội chỉ cần ăn năn là được tha. Nhưng còn những tội khác kẻ phạm tội phải chịu đọa [nơi hỏa ngục].

Trong thời Thập Tự Chiến, ân xá hoàn toàn được hứa cho những ai sẵn lòng hi sinh mạng sống cho cuộc chiến vì Đức tin. Sau những Thập Tự Chiến, sự hi sinh bằng tiền trả vào ngân khố của Gh được coi như để thay thế. Trả tiền cho Gh để được Chúa tha tội gọi là mua “khoan hồng”. Những khoan hồng này được bán ở tất cả nơi nào có ngưòi Kitô giáo. Và kẻ nào tội lỗi nhiều nhất dĩ nhiên là khách hàng sộp nhất. Không phải chỉ giới tu sĩ mà còn cả con buôn cũng bán khoan hồng, ăn hoa hồng ba mươi ba phầ trăm hay một phần ba. Khoan hồng thực sự có nghĩa là sự Tha thứ của Chúa, bây giờ được bán ra như chứng khoán hay cổ phần.

Đối với [Martin] Luther, việc thương mại hóa sự Rộng Lượng của Chúa có vẻ là điều không phải. Ông không thể hiểu được làm sao một người giết người khác, rồi bỏ ra một số tiền mua khoan hồng của nhân viên hay mại bản của Gh,  rồi trở nên vô tội trước mặt Chúa (How the Great Religions Began, trang 217).

Theo Frank Allmut:

Martin Luther viết rằng kẻ Phản Chúa là Gh, một quan điểm hiện nay hãy còn được một số học giả chuyên về Thánh Kinh theo… Một trong những điều ấy nói về danh hiệu của Gh, “Vicarius Filii Dei”, nghĩa là “Trợ tế của Con Chúa” và ngụ ý rằng Gh đòi đứng thay chỗ của Giê su và nắm giữ quyền uy của Ngài trong GH (Antichrist: After the Omen, rang 46).

Roland H. Bainton viết về nhà cải cách này:

Sự thay đổi lớn lao đến từ một người tên là Martin Luther; vị này không hề chủ tâm cải tổ GH nhưng chỉ giản dị là xác định rằng Chúa có thiện cảm với ông. Con người thì nhỏ. Chúa thì lớn. Con người thì xấu. Chúa thì tốt. Vì Chúa tốt nên Ngài phải nổi giận với tội lỗi của con người. Và vì Ngài lớn nên nộ khí của Ngài phải khủng khiếp. Luther cảm thấy nộ khí của Ngài y như sấm sét kinh hoàng. Ngay cả Kitô đối với Luther cũng chỉ như là một phán quan nghiệt ngã ngồi trên cầu vòng để cho kẻ hiền lên trời và kẻ dữ xuống hỏa ngục (trang 129).

Cải cách bàng bạc trong không khí vào thời Luther và những ghi chú phát ra từ cái loa của ông thức tỉnh nhiều người chỉ cho có một dấu hiệu nào đó để cải cách GH của chính họ và nếu cần thì tách ra khỏi GH Công giáo La Mã. Những người này tuy thế không nhập vào với giáo hội của Luther mà lập ra những GH của chính họ… Ba GH ở Thụy sĩ. GH thứ nhất ở Zurich… gọi là GH Cải Cách. GH thứ hai cũng ở đó và gọi là GH Baptist… GH thứ ba ở thành phố Geneva, dưới sự lãnh đạo của John Calvin, gọi là Presbyterian (The Church of Our Fathers, trang 142).

Tuy bị chỉ trích, Dòng Tên đã lập được rất nhiều công trạng đáng kể, nhất là trong lãnh vực văn hóa, khoa học. Lm John Courtney Murray, SJ, là 1 trong những phác kế Công Đồng Vatican 2 và soạn thảo Dignitatis Humanae Personae, tuyên dương tự do tôn giáo trên thế giới.

Việc tu hành của Dòng Tên căn bản là Thiền Tiên Nghiệm (Transcendental Meditation), bổ túc bằng triết học, siêu hình học, luận lý học, tâm lý học, phân tâm học, tâm lý trị liệu, tâm thần bệnh học, thần giao cách cảm, thôi miên, ma thuật và phù thủy (parapsychology). Vì thế đa số giáo sĩ Dòng Tên là những nhà thông thái hay đại học giả, gồm nhiều nhà bác học phát minh về nhiều lãnh vực khoa học. Tại Hoa Kỳ, rất nhiều tu sĩ Dòng Tên là các nhà thiên văn, các khoa học gia đang làm việc tại các trung tâm khoa học. Trong thời chiến tranh lạnh, họ là các chuyên gia trao đổi các dữ kiện khoa học với các chuyên gia khoa học của Liên Xô.

Đại học Gregorian University tại Rome, do chính thánh Y Nhã thành lập năm 1551, đã đào tạo 8 hiển thánh, 16 giáo hoàng và hàng ngàn hồng y, tổng gám mục, giám mục.

Hiện nay, 3 phần tư giáo sư dạy các phân khoa của đại học Gregorian là tu sĩ Dòng Tên. Trường có 2000 sinh viên theo học, đông nhất là ý, kế đến là Mỹ, non một nửa là tu sĩ của Dòng, các nữ sinh viên đều là nữ tu. Trường rất nổi tiếng về các khoa tâm lý, xã hội học, Viện Nghiên Cứu Đông Phương và nhất là Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác xít. Dưới thời Gh Pius XII (1939-1958), toàn thể các chức sắc Vatican đều là các tu sĩ Dòng Tên người Đức.

Đài phát thanh Vatican (Vatican Radio) hoàn toàn do các tu sĩ Dòng Tên thiết kế và điều khiển từ 1931 dưới triều Gh Pius XI (1922-1939), phát thanh liên tục 24/24 bằng 34 thứ tiếng.

Từ đầu thập niên 1990, nhóm đối lập mệnh danh là “Opus Dei” (Tác phẩm của Chúa-Oeuvre de Dieu), tiếng Việt gọi là Dòng Hạnh Nhân, đẩy các tu sĩ Dòng Tên ra khỏi đài phát thanh Vatican.

Opus Dei do tu sĩ Josemaría Escrivá de Balaguer, sinh 1902 tại Barbastro, Tây Ban Nha, thành lập ngày 2.10.1928 quy tụ các cư sĩ Công giáo, ngày 24.2.1947 được Gh Pie XII thừa nhận bằng giáo chỉ Decretum Laudis, ngày 28.11.1982, được nâng lên hàng “Giáo Phận Tòng Nhân” (Prelatura personale) bằng tông hiến (constitution apostolique) Ut sit.

Josemaría Escrivá de Balaguer mất ngày 26.6.1975, được Gh Jean-Paul II phong chân phước ngày 17.5.1992, phong hiển thánh ngày 6.10.2002 tại quảng trường Saint-Pierre. Ngày 25.6.2004, lần đầu tiên lễ mừng thánh Josemaria được tổ chức tại Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn, do Lm Joseph Tuấn chủ tế.

Theo Thông Tấn Xã Công giáo:

Opus Dei là một trong các tổ chức hùng mạnh nhất trong GH trong lúc này.

Đức Phaolô VI, trong thư do chính ngài ký gởi Cha Josemaría Escrivá de Balaguer, 1/10/1964, đã viết như sau: ‘Trong những lời của Cha Josemaría Escrivá de Balaguer nói lên, Ta cảm thấy rung động của tâm hồn được đốt cháy và quảng đại của Tổ chức Opus Dei, được thành lập trong thời đại chúng ta như một biểu lộ sức trẻ trung xuân xanh liên lỉ của Giáo hội… Với hài lòng của một người Cha, Ta thấy nơi những gì Opus Dei đã thực hiện và đang thực hiện cho Nước Chúa, ước muốn tiến đến sự lành, hướng dẫn tổ chức của mình, – tình yêu nồng nhiệt đối với Giáo hội và đối với Vị lãnh đạo hữu hình của Giáo hội, đặc điểm của Tổ chức, – lòng nhiệt thành đối với các linh hồn, thúc đẩy Tổ chức trên những con đường khúc khuỷu và khó khăn của việc tông đồ, của sự hiện diện và của chứng ta trong mọi lãnh vực của đời sống hiện nay’…

Đức Ông Nguyễn Văn Tài tuyên bố trên Radio Veritas Asia ngày 7.10.2002:

Vụ làm án phong Thánh của Cha Josemaria Escrivà de Balaguer… bị chỉ trích, do cả một số vị giáo sĩ tại Giáo triều Roma và ngoài Roma. Opus Dei trong một thời kỳ đã gặp nhiều khó khăn, bị tố cáo là “bè nhiệm” trắng, là một hội kín… Chính phủ ý đã trao việc điều tra cho Tổng trưởng Bộ Nội vụ, lúc đó là ông Oscar Luigi Scalfaro. Trước Quốc hội ông đã minh chứng: những  tố cáo và nghi ngờ không có nền tảng. Opus Dei đã được tự do hoạt động và tiến mạnh tại thủ đô Giáo hội và trong nước ý…

Có dư luận cho là việc cáo gian này là do đố kỵ của Dòng Tên bị Opus Dei tranh chỗ trong Hội Thánh. Trên thực tế, trong thập niên 1940, một trong người trong GH sớm chỉ trích Opus Dei không ai khác hơn là Tổng Quyền Dòng Tên thứ 26, Wlodimir Ledochowski. Tổng Quyền  Ledochowski trình lên GH rằng Opus Dei “rất nguy hiểm cho GH ở Tây Ban Nha (very dangerous for the Church in Spain)”, nhắc đến ‘‘tính chất bí mật (secretive character)” của Opus Dei và gọi Opus Dei là “một hình thức của Tam Điểm Công Giáo( a form of Christian Masonry).”

Opus Dei cũng thường bị chỉ trích là có lối tu hành xác như đeo một vòng kẽm gai (Celice-Cilice-Xem hình dưới đây) quanh đùi mỗi ngày 2 tiếng đồng hồ. Chỉ trích tăng khi Opus Dei, và cả GH ở Tây Ban Nha, tích cực ủng hộ nhà độc tài thống tướng Francisco Franco (1892-1975), một số bộ trưởng và viên chức trong chính phủ Franco là thành viên Opus Dei, và Opus Dei phát triển mạnh trong thời Franco cai trị. Nhưng một số “thánh nhân” như mẹ Theresa, tgm Óscar Romero và thánh Padre Pio cũng là thành viên Opus Dei.

Linh mục Bùi Đức Sinh cho rằng Hội Tam Điểm là đối tượng tranh đấu của Dòng Tên: “Đứng trước cuộc khủng hoảng tinh thần thế kỷ XVIII, nhiều người đương thời như cha A. Barruel (1741-1820) Dòng Tên, một nhà văn nổi tiếng, đã nhận ra những người chủ mưu và lãnh đạo lực lượng chống Chủ thuyết, chính là hội Tam điểm… Giáo hội đã nhận ra tai hại của hội này. Các cha dòng Tên vẫn là người đầu tiên tố cáo họ. Năm 1738, đức Thánh Cha Clementê XII đã lên án bè Nhiệm là phản tôn giáo, vô luân và phản xã hội qua Tông chiếu In Eminenti. Và 13 năm sau, đức Thánh Cha Beneđictô XIV lại kết án một lần nữa trong Tông chiếu Providas Romanorum” (Lịch sử Giáo hội Công Giáo, tái bản lần thứ bẩy California 2001, Phần Nhì, Chương Bốn, II.1).

Robert Howard trong bài “United States Presidents and The Illuminati/Masonic Power Structure” khẳng định: “Các Tam Điểm cấp thấp không biết rằng các Tam Điểm cao cấp làm việc cho Tướng Dòng Tên. Họ nghĩ rằng họ chỉ làm việc thiện và thành những người tốt. Nhưng thực ra các Tam Điểm cao cấp cũng là những thần dân của Tướng Dòng Tên, vì Tướng Dòng Tên, với Frederick Đại Đế, viết: các Cao Cấp, và 8 Cấp cuối cùng, của Nghi Thức Tam Điểm Tô Cách Lan khi Frederick bảo trợ họ sau khi họ bị Giáo hoàng đàn áp năm 1773. Vậy, ta có việc Dòng Tên cùng chiến tuyến (aligned) với hội viên Tam Điểm quyền thế nhất, là Frederick Đại Đ,ế trong thời gian họ bị đàn áp. Đó là một kết luận không thể bác bỏ được. Và rồi, khi xét các Chiến Trận Napoleon, Cách Mạng Pháp và các Chiến Trận Napoleon do Tam Điểm thực hiện, tất cả những gì Napoleon làm và Jacobin làm, hoàn toàn có lợi cho Dòng Tên”.   

Hai nhận định trên đây có vẻ mâu thuẫn. Dòng Tên chủ trương diệt Tam Điểm hay chỉ đạo Tam Điểm? Muốn trả lời, ít nhất cũng phải xem Tam Điểm được tổ chức như thế nào.

 

***

 

Kính cáo: Trong loạt bài này có những sự kiện có ích để hiểu rõ thêm đề tài đang thảo luận nhưng nếu trình bầy ngay trong bài thì đề tài bị đứt đoạn. Vì vậy các sự kiện này sẽ được trình bầy trong một bài bên cạnh dưới bút hiệu Nguyên Trân.

 

Chú thích của Tác giả

 

[1] Theo Robert Howard (Hard Truth/Wake Up America): Dòng Tên dùng Nhà Rothschild Do Thái để tài trợ Cách Mạng Pháp và Napoleon hội viên Tam Điểm cùng với cố vấn của ông là tu viện trưởng Sieyes được Dòng Tên huấn luyện. Vẫn theo Howard, dù tu viện trưởng Dòng Tên Barruel lên án Nhà Rothschild và Tam Điểm về cuộc Cách Mạng, chính Dòng Tên đã dùng những công cụ này để tiến hành Cách Mạng và trừng trị các quân vương đã dám đuổi họ đi khỏi lãnh thổ để họ phải đến lánh nạn tại đảo Corsica. Ở đó họ đào tạo vĩ nhân sẽ trả thù cho họ: Napoléon Bonaparte.

[2] Lời nguyện thứ tư này là đề tài cho nhiều tranh luận. Tiến sĩ J. A. Wylie LL.D., tác giả của bộ “History of Protestantism” gồm 2 tập, xuất bản năm 1878, trong đó có viết 1 đoạn tên là ‘‘Lịch Sử Dòng Tên’‘ (History of the Jesuits). Có một văn kiện vẫn còn gây tranh cãi là “Những Huấn Thị Mật Của Dòng Tên” (Secreta Monita). Monita Secreta được gán cho là do Jerome Zahorowski bịa ra, hoặc Tổng Quyền thứ 5 của Dòng Tên, Claudio Acquaviva, ban hành cho các bề trên, nhưng Monita Secreta bị đa số bác khước, ngay cả những người chống đối Dòng Tên như Blaise Pascal (tác giả của Bức thư ngỏ gởi một Giám tỉnh – Lettres Provinciales, 1656-57), vv..

[3]. Thời Trung Cổ (Moyen-Age) là thời kỳ giữa cổ đại (antiquité) và hiện đại (les temps modernes), thường tính từ năm Đế Quốc La Mã Tây Phương sụp đổ (476) và năm thành Constantinople bị thất thủ (1453), gần 1,000 năm. Thời Phục Hưng bắt đầu từ năm sinh của Petrarch (1304) đến năm Titan chết (1576).