HÒA hay CHIẾN? – Mỹ Lộc


HÒA hay CHIẾN

 

 Mỹ Lộc

 

Hòa hay Chiến? Đó là mối quan tâm của nhiều người vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mỗi người và ai cũng cố giải đáp nhưng không một ai có thể trả lời được, vì chính trường quốc tế là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Có khi hòa hay chiến lại tùy thuộc phần nào vào những yếu tố hết sức nhỏ nhặt.

Hãy thử trình bầy một chi tiết nhỏ ấy, nhỏ mà đã đa đoan.

Người ta vẫn bảo một người lính Mỹ ra trận thì có mấy người gánh hàng tạp hóa đi theo, nghĩa là vấn đề hậu cần của quân lực HK rất quan trọng, phần lớn do các nhà thầu dân sự (PMC = Private Military Contractor) đảm trách. HK đã chi $830 tỷ cho hai chiến trường Iraq và A Phú Hãn, trong số này khoảng $100 tỷ để trả cho 240,000 nhân viên PMC, nhiều hơn quân số Mỹ tham chiến.

Chính TT Bush bố là người đã tư nhân hóa quân sự. Dick Cheney, khi làm bộ trưởng Quốc Phòng cho ông đã chi cho Kellog, Brown & Roots Services (KBR), một cty vệ tinh của Halliburton mà chính ông sau về làm tổng giám đốc, $9 triệu để nghiên cứu chương trình LOGCAP (Logistics Civil Augmentation Progam). Tính đến ngày 4.3.2007, kinh phí cho 149 lệnh công tác (task orders) xuất phát trong khuôn khổ LOGCAP lên đến $22.5 tỷ.

Hiện nay, mỗi năm Ngũ Giác Đài chi $25 tỷ để trả cho mấy chục nhà thầu, lớn nhất là KBR. KBR có doanh số hàng năm $11.6 tỷ, đã cung cấp 937 triệu bữa ăn, 7 tỷ gallon xăng và chuyển quân và quân nhu quân cụ trên 745 triệu dặm, nhưng những con số này không đáng tin, vì KBR đã từng khai gian lận. Thượng Viện tố cáo KBR tính gấp đôi giá cung cấp soda, nâng giá 699% các chuyến hàng nguyên liệu, có lần đổ 22.6 tấn đinh ở sa mạc vì đinh không đủ chiều dài nhưng vẫn tính tiền, xe xẹp lốp, không có dụng cụ thay bánh, người của KBR “vô tư” dùng cái lốp xẹp làm mồi đốt luôn cái xe. Có khi cả đoàn xe không chở gì, chạy chơi trên sa mạc rồi về tính tiền giao hàng. Có khi được giao công tác, nhân viên kéo nhau đến địa điểm được chỉ định rồi ngồi đó chơi, lấy cớ thiếu an ninh, vẫn tính tiền công. Năm 2006, trong 12 hợp đồng giao cho KBR thì đến hơn một nửa hóa đơn tính vào thời gian ngồi chơi sơi nước này. Trong một hợp đồng khác, KBR tính $13.4 triệu là chi phí trực tiếp và $52.7 triệu là chi phí gián tiếp, gấp 4 lần chi phí trực tiếp, nghĩa là chi phí cho nhu cầu thực sự. KBR độc quyền LOGCAP (Logistics Civil Augmentation Progam) chuyên cung cấp dịch vụ giặt ủi, bưu vụ, các phần ăn uống, điện năng, xăng dầu, vệ sinh, doanh trại, đường xá. Doanh thu trong chiến cuộc lên đến $31.4 tỷ, lãi $700 triệu.

Không hiểu tại sao các việc làm mờ ám của KBR không bị phanh phui.

James Risen viết trong bài “Iraq: Controversial Contractor”s Iraq Work Is Split Up:” đăng trên The New York Times ngày 24.5.2008:

Lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bắt đầu, hợp đồng lớn nhất tại Iraq của Ngũ Giác Đài được chia cho 3 cty, chấm dứt độc quyền của KBR, nghiệp hội có trụ sở ở Houston từng bị cáo giác là tiêu phí và quản trị sai và lợi dụng những liên hệ chính trị với PTT Dick Cheney… Tháng trước, Ngũ Giác Đài cấp cho các cty một hợp đồng mới để cung cấp thực phẩm, chỗ ở và các dịch vụ căn bản cho lính Mỹ, một hợp đồng 10 năm với kinh phí $150 tỷ kéo dài xa hơn những ngày cuối của Hành pháp Bush. KBR vẫn được miếng lớn nhưng bây giờ phải chia việc với Fluor Corporation và DynCorp International.

Khi TT Obama gửi thêm 20,000 quân sang A Phú Hãn thì DynCorp đã có mặt ngay tại chiến trường, năm 2008 giành được gói thầu LOGCAP, tháng 7.2009, lại ký được một hợp đồng 5 năm $5.9 tỷ, cung cấp dịch vụ hậu cần tại Nam A Phú Hãn như dựng doanh trại, giặt ủi, chặt bỏ cây thuốc phiện, huấn luyện, đào tạo cảnh sát địa phương. Khi Iraq rút giấy phép của Blachwater USA thì tháng 6.2009 DynCorp được bộ Quốc Phòng giao cho một hợp đồng $915 triệu để đảm trách trong 5 năm dịch vụ không vận và an ninh cho các viên chức ngoại giao. KBR, DynCorp, Blackwater… là những nhà thầu quân sự tư nhân (PMC = Private Military Contractor).

Ngoài những chuyện ăn gian nói dối để kiếm tiền, các PMC còn phạm những tội ác đáng tội tử hình ở nhiều nước, nhưng được làm ngơ và vô tội ở Mỹ.

Ngày 11.3.2005, dân biểu Cynthia McKinney quay bộ trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld và tướng Myers:

Thưa ông bộ trưởng, tôi xem TT Bush đọc bài diễn văn cảm động tại LHQ vào tháng 9.2003, trong đó đề cập đến cuộc khủng hoảng buôn tình dục, kêu gọi trừng phạt những kẻ liên quan đến doanh nghiệp ghê tởm này. Nhưng đúng lúc ấy thì DynCorp bị cáo giác đã liên can đến việc mua và bán phụ nữ và trẻ con và đang thi hành hợp đồng trích ngừa đậu mùa và anthrax và hiện nay đang công tác trích ngừa bệnh dịch qua chương trình Joint Vaccine Acquisition Program. Thưa ông bộ trưởng, có phải chính sách của Chính phủ HK là thưởng những cty buôn phụ nữ và thiếu nữ  không?

Rumsfeld ú a ú ớ mãi rồi bảo rằng tiến sĩ Chu cho biết không phải cty mà là 1 nhân viên cty làm những chuyện ấy và cũng lâu rồi ở vùng Balkan.

Ít nhất 13 nhân viên DynCorp ở Bosnia bị đuổi về và ít nhất 7 người bị sa thải vì liên can đến buôn người và mãi dâm, nhưng không có lấy 1 người bị truy tố ra tòa. Có nhân viên không đành làm ngơ, đứng ra tố cáo, thì bị gán đủ thứ tội và sa thải, như trường hợp của Kathryn Bolkovac, một cựu nhân viên của DynCorp, được tòa án Anh xử thắng kiện và Ben Johnston, cựu thợ máy trực thăng của DynCorp, tố cáo nhân viên DynCorp trung niên làm tình với những bé gái tuổi từ 12 đến 15, bị sa thải nhưng được DynCorp điều đình bồi thường 2 ngày trước khi ra tòa Texas. Ben Johnston cho biết việc mua gái mãi dâm, nhiều cô vị thành niên, là việc thông thường đối với nhân viên DynCorp tại trại Comanche, bên ngoài Tuzla, Bosnia, khiến anh ta phải báo cáo lên Bộ chỉ huy điều tra hình sự quân đội HK (U.S. Army’s Criminal Investigative Command). Một giám đốc công trường của DynCorp còn lấy thiết vận xa chở gái điếm từ Kuwait đến Baghdad.

DynCorp cung cấp đủ thứ dịch vụ tại Trung Đông, cố vấn chính phủ Iraq tổ chức lực lượng thi hành pháp luật, tòa án và trại giam, cử 1,000 chuyên viên cảnh sát dân sự Mỹ đi giúp các địa phương đánh giá hiểm họa công cộng, cung cấp vũ khí và hỗ trợ chuyên môn cho lực lượng duy trì hòa bình, dự trù tính US$50 triệu tiền công cho năm đầu. Nhân viên DynCorp là cái lõi của cảnh sát Bosnia. An ninh DynCorp được thuê để bảo vệ TT A Phú Hãn Hamid Karzai, ngày 14.10.2004 bị khiển trách vì tính bắng nhắng. Trực thăng và máy bay DynCorp thi hành những phi vụ trải thuốc rụng lá trên các cánh đồng trồng coca ở Colombia. Ngày 27.2.2002, International Labor Rights Fund nhân danh 10,000 nông dân Ecuador và dân da đỏ Amazon nộp đơn lên tòa án liên bang HK kiện DynCorp về tội hành hạ, giết trẻ con và gây chết chóc trong khi phun thuốc sát trùng tại rừng Amazon, dọc biên giới Ecuador và Colombia.

Một nhà thầu khác còn tác oai tác quái ghê gớm hơn nhiều.

Erik Prince, một cựu sĩ quan lực lượng đặc nhiệm Hải Quân SEAL, nội trú (intern) tại Bạch ốc thời TT Bush bố, thường ủng hộ tài chánh cho Đảng Cộng Hòa (CH) và các ứng cử viên CH, cuối thập niên 1990 mua khoảng 6,000 acres (24 km2) đồng lầy nước đen ở North Carolina, cùng với Al Clark, lập ra một trại huấn luyện quân sự tư và thành lập một cty lấy tên là Blackwater (nước đen) USA, tháng 11.2006 lại mua thêm 80 acres tại Mount Carroll, Illinois phía tây Chicago gọi là Blackwater North, tháng 4.2007 dự định lập thêm một trại 824 acres phía bắc Potrero, quận San Diego, California nhưng không thành vì địa phương phản đối. Nhiều nhân viên cty là cựu viên chức cao cấp trong chính quyền. Blackwater ký với chính phủ HK những hợp đồng trị giá $1 tỷ, đến tháng 10.2007 thì đổi tên là Blackwater Worldwide, đến ngày 13.2.2009 lại đổi tên là Xe Services LLC để chuyển hướng hoạt động của cty ra ngoài Iraq vì tháng 1.2009 chính quyền Iraq từ chối không cấp giấy hành nghề cho Blackwater nữa, nhưng Xe Services vẫn còn là nhà thầu của chính phủ liên bang HK, nhất là CIA. Một số nhân viên Xe sẽ ở lại làm lậu cho đến ít nhất là tháng 9.2009. Ngày 2.3.2009, Erik Prince từ chức tổng giám đốc, chỉ giữ chức CT Hội Đồng Quản Trị.

Nhân viên Blackwater có nhiều hành động phạm pháp.

Ngày 31.3.2004, bốn nhân viên Blackwater bị quân phản loạn Iraq bắn chết tại Fallujah, xác treo trên cầu ngang sông Euphrates, khởi sự cho chiến sự Fallujah. Mùa thu 2007, Quốc Hội HK báo cáo Blackwater đã cố tình kéo dài và cản trở cuộc điều tra của vụ này, có lẽ để giấu tội của nhân viên. Ngày 16.2.2005, một đoàn quân Blackwater hộ tống đoàn xe bộ Ngoại Giao HK bắn 70 viên đạn vào một chiếc xe của người Iraq, vu khống là vì bị người Iraq bắn trước, thực sự chính một nhân viên Blackwater bắn vào xe của mình để ngụy tạo bằng chứng. Năm 2006, một chiếc SUV của Blackwater đâm vào một chiếc Humvee của Quân Đội HK. Bảo vệ Blackwater tước khí giới lính Mỹ và chĩa súng bắt nằm dưới đất cho đến khi chúng gỡ được chiếc SUV ra. Từ 2005 đến tháng 9.2007, Blackwater đã liên can đến 195 vụ bắn lộn trong đó 163 vụ nhân viên Blackwater bắn trước. 25 nhân viên chỉ huy bị đuổi vì vi phạn chính sách rượu và ma túy của Xe và 28 vì có liên quan đến vũ khí. Đêm Giáng Sinh 2006, Andrew J. Moonen, nhân viên Blackwater, bị tố cáo trong khi say rượu đã bắn chết một bảo vệ của PTT Iraq Adel Abdul Mahdi. Hắn bị Blackwater đuổi về Mỹ nhưng lại được một nhà thầu khác, Combat Support Associates, thuê từ tháng 2 đến tháng 8.2007 làm việc tại Kuwait. Cuối tháng 5.2007 nhân viên Blackwater trong 2 ngày đã 2 lần xả súng trên phố Bhaghdad, một lần gây sự với biệt kích Iraq, ngày 30 lại bắn một thường dân Iraq vì đã lái xe “quá gần” đoàn xe của bộ Ngoại Giao đang được Blackwater hộ tống. Ngày 6.2.2006, một tên bắn sẻ nhân viên Blackwater, không có lý do, từ trên nóc bộ Tư Pháp bắn xuống giết 3 bảo vệ làm cho cơ quan truyền thông Networkon do nhà nước tài trợ. Tháng 11.2008, bộ Ngoại Giao HK ra lệnh phạt Blackwater nhiều triệu đô la vì chở hàng trăm súng liên thanh không giấy phép vào Iraq và không trả thuế quan, một số bán chợ đen.

Nhưng nếu không có hai nguyên nhân đặc biệt thì chưa chắc Blackwater đã mất việc tại Iraq.

Ngày 16.9.2007 tại Công Viên Nisoor, Baghdad, trong khi hộ tống đoàn xe bộ Ngoại Giao HK đi dự buổi họp với USAID ở phía tây Baghdad, bảo vệ của Blackwater được hai trực thăng của Blackwater trợ chiến bắn chết 17 thường dân Iraq, cả trong lúc họ chạy trốn, theo FBI ít nhất 14 nạn nhân bị giết không có lý do. Bộ Ngoại Giao bảo “người vô tội đã mất mạng”. Một sĩ quan dấu tên cho biết bảo vệ Blackwater nổ súng dù không bị khiêu khích gì cả và đã dùng vũ lực quá đáng. Năm cựu nhân viên Blackwater bị HK truy tố tội sát nhân (manslaughter), cả 5 chối tội, một người thứ 6 nhận tội và cộng tác với các điều tra viên. Sau biến cố này, ngày 17.9.2007, chính phủ Iraq yêu cầu tống cổ Blackwater đi, nhưng các viên chức HK thuyết phục họ rằng không thể làm thế ngay được, vì Hoa Thịnh Đốn phải dựa vào Blackwater để bảo vệ sinh mạng của các nhà ngoại giao và cần có thời gian mới tìm được người thay thế. Cả một quân đội hùng mạnh, cả một siêu cường mà phải lệ thuộc một đám lính đánh thuê côn đồ thì chiến tranh không thể nào sớm chấm dứt được.

Hai ngày trước khi dời Iraq, “quan toàn quyền” L. Paul Bremer ký “Lệnh 17″ ban cho các người Mỹ phục vụ tại Iraq được miễn truy bởi luật pháp Iraq. Ngày 23.9.2007, chính phủ Iraq ngỏ ý muốn thụ lý vụ 5 bảo vệ Blackwater xả súng giết 17 người Iraq ngày 16.9.2007 và chấp thuận dự luật đảo ngược Lệnh 17 vì người ra Lệnh này không có thẩm quyền làm việc ấy. Đến “quan toàn quyền” mà cứ tưởng mình… toàn quyền (la loi c”est moi), làm ăn cà chớn thế, huống hồ “ba tòa quan lớn Việt Cộng”. Tháng 12.2008, bộ Tư Pháp HK lên án 5 bảo vệ Blackwater. Một số gia đình nạn nhân cho biết họ sẽ kiện đòi bồi thường.

Lý do thứ hai có tính cách tôn giáo.

Việc Sĩ quan Điều Hành Trưởng của Blackwater, Joseph Schmitz, là một thành viên danh dự của tổ chức Hiệp sĩ Dòng Quân Quyền Chí Tôn Malta (SMOM – Sovereign Military Order of Malta), một Quân Quyền (sovereign) không có lãnh thổ được LHQ công nhận, trụ sở ở Rome, hậu thân của Thập Tự Quân Hiệp Sĩ Cứu Thương từ Jerusalem (Knights Hospitaller of Saint John of Jerusalem), một dòng tu quân sự Công giáo từ tk XI, gây ra một nghi vấn rằng Blackwater là một tổ chức Thập Tự Quân. Dân biểu Quốc Hội Jordan Jamal Muhammad Abidat viết trên nhật báo Al-Bayan của Abu Dhabi, thủ đô của Các Tiểu Quốc Ả Rập Thống Nhất:

“Chiến sử đau thương của Ả Rập Hồi giáo ngày nay gợi nhớ những chiến trận của các Thập Tự Quân vào tk XI khi các Hiệp Sĩ Malta bắt đầu những cuộc hành quân của họ với tư cách là dân quân Kitô giáo có nhiệm vụ bảo vệ đất đai do các Thập Tự Quân chiếm được. Những ký ức này trở về phũ phàng trong tâm trí với việc khám phá các mối liên hệ lịch sử giữa cái gọi là những hãng bảo vệ ở Iraq như Blackwater với các Hiệp Sĩ Malta. Người ta không thể cường điệu nó được. Dòng Malta là một ảo chính phủ hay là một chính phủ bí mật nhất trên thế giớ”i.

Huynh Andrew Bertie, đại sư của Hiệp sĩ Dòng Quân Quyền Chí Tôn Malta (SMOM) phản kháng:

“Trong những tháng gần đây, các tân lý thuyết âm mưu đã rầm rộ trên nhiều đài truyền hình và báo chí trong những quốc gia hữu nghị nhưng lại liên kết Hiệp sĩ Dòng Quân Quyền Chí Tôn Malta  với một cty tư nhân lính đánh thuê đang hoạt động tại Iraq và A Phú Hãn cho một chính phủ ngoại quốc. Những khẳng định này tuyệt đối vô căn cứ”.

Quốc Hội Âu Châu phổ biến một phúc trình của nhà lập pháp Giovanni Claudio Fava, cho chi tiết các liên hệ giữa Blackwater và Malta. Fava cho biết đảo quốc Cộng Hòa Malta là một trong những căn cứ điều hành hàng đầu của Blackwater. Phó chủ tịch Blackwater, Cofer Black, cựu giám đốc Trung Tâm Chống Khủng Bố của CIA và cựu Đại sứ lưu động bộ ngoại giao, phụ trách hai vụ chuộc các người thân Tây phương bị giam giữ. Đầu tháng 8.2009, các lời khai viết có tuyên thệ nộp tại tòa án HK ở Virginia có ghi những dẫn chứng chống lại Blackwater, kể cả sát nhân, buôn lậu vũ khí, giết hại thường dân với lời cáo giác sáng lập viên Erik Prince đã tổ chức việc sát hại những cựu nhân viên cộng tác với các điều tra viên liên bang HK. Một trong những lời khai ấy là của một cựu nhân viên đã làm cho Blackwater 4 năm và là một cựu thủy quân lục chiến, làm chứng rằng: “Ông Prince tự coi mình là một Thập Tự Quân Kitô giáo có bổn phận loại trừ những người Hồi giáo khỏi địa cầu… Để đạt mục đích ấy, ông Prince cố ý phái sang Iraq những người cùng chung ảo tưởng về tính chí tôn Kitô giáo với ông, biết và muốn rằng họ sẽ lợi dụng từng cơ hội để giết những người Iraq. Nhiều người trong bọn họ dùng những dấu hiệu nhận nhau theo các Hiệp Sĩ Đền Thờ (Knights of the Templar) là những chiến sĩ chiến đấu trong những cuộc Thập Tự Chiến. Ông Prince và những giám đốc khác cũng bị cáo giác là đã hủy các băng video, điện thư và tài liệu không để lọt vào tay bộ Ngoại Giao”. Dĩ nhiên Blackwater bác bỏ tất cả các cáo giác này.

Jeremy Scahill, tác giả một cuốn sách về Blackwater nói rằng tổng giám đốc cty này Joseph Schmitz, một cựu tổng thanh tra Ngũ Giác Đài, la lối giảng ý thức Thập Tự Chiến với luận điệu lập đi lập lại “luật pháp dưới quyền Chúa”. Mỹ có nhiệm vụ đem luật Chúa ban bố cho khắp nhân loại trong cái mà Scahill gọi là ảo tưởng “Chí Tôn Kitô giáo” (Christian Supremacy). Scahill cũng cho rằng Erick Prince tin rằng Blackwater là một công cụ quan trọng để bảo đảm vai trò cốt yếu của Kitô giáo trong chính sách ngoại giao HK.

Ngày 2.10.2007, Erik Prince ra trước Ủy Ban Kiểm Tra và Cải Tổ Chính Phủ để trả lời về tác phong của nhân viên Blackwater tại Iraq và A Phú Hãn. Blackwater thuê hàng đống những hãng luật sư trứ danh và cựu viên chức chính phủ cao cấp chuẩn bị bản điều trần của ông. Với tiền bạc và thế lực, chắc chắn ông sẽ “bình an vô sự”.

Ông bình an thì dân bất an. Để làm tất cả những hành vi đạo tặc kể trên đây, Blackwater bắt các người thọ thuế Mỹ trả US$1,222 một ngày cho một nhân viên Blackwater, tức $445,000 một năm, sáu lần lương một quân nhân HK.

Như thế thì chỉ có chiến chứ hòa làm sao được?